Thuốc Chữa Bệnh Tim Mạch

Thuốc tốt cho người cao tuổi!!!


Thuốc Chữa Bệnh Tim Mạch

TỪ “THỦ DÂM” ĐẾN “KHỔ DÂM VĂN HOÁ”

TỪ “THỦ DÂM” ĐẾN “KHỔ DÂM VĂN HOÁ” – HÀNH TRÌNH VÀI CHỤC NĂM “NGƯỜI VIỆT” NÓI VỀ CHÍNH MÌNH.
CHUYỆN “THỦ DÂM VĂN HÓA”
Ngay trong máu lửa của cuộc chiến tranh Việt Nam (1955-1975), tinh thần dân tộc chủ nghĩa dâng cao ở cả hai miền Nam – Bắc. Và trong cơn say của chủ nghĩa dân tộc, trí thức cả hai miền không ngừng nói về những giá trị cao đẹp, ngợi ca “người Việt Nam” bằng tất cả những mỹ từ có thể tìm thấy trong từ điển.
Ở miền Bắc, người ta ca ngợi giá trị công dân – xã hội, chủ nghĩa yêu nước, đặt trọng tâm vào xây dựng “con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Họ gắn chặt những phẩm chất của người Việt Nam, lịch sử Việt Nam với những giá trị của chủ nghĩa xã hội và cách mạng.
Ở miền Nam, một số trí thức tập trung xây dựng cả một hệ thống lý thuyết “Việt tâm” (Việt Nam là trung tâm của tất cả) đồ sộ. Coi tất cả những giá trị văn hóa, văn minh tốt đẹp có thể có được là của người Việt Nam. Dĩ nhiên, tiêu biểu nhất cho xu hướng này là Kim Định (1).
Và rồi khi chiến tranh kết thúc, chủ nghĩa dân tộc trở thành nền tảng ý thức hệ chủ đạo của xã hội. Xu hướng ngợi ca “phẩm chất người Việt Nam”, “đặc trưng văn hóa Việt Nam”, và “bản chất người Việt Nam” vẫn là xu thế chủ đạo. Người ta tiếp tục xu hướng “Việt Nam là trung tâm của tất cả” từ Kinh Dịch, trống đồng, thuyết âm – dương, nông nghiệp lúa nước, nữ quyền, chữ Hi Lạp, linga và yoni, chữ vuông, cho đến cả chữ Hán cũng được cho là có nguồn gốc Việt Nam (2). Người ta thậm chí còn đưa những thuyết đó vào sách giáo khoa và dạy ở trường Đại học.
Chưa bao giờ trong lịch sử, cộng đồng có thể hỉ hả sung sướng về….chính bản thân mình như vậy. Nhưng sung sướng hỉ hả chỉ để mà sung sướng hỉ hả với nhau. Còn cả thế giới xung quanh như thế nào, nói gì về mình thì chả mấy ai thèm đếm xỉa. Điều này đã tạo thành một xu hướng mà mà tôi gọi một cách dân dã là “thủ dâm văn hóa”.
Hệ quả của thói tật tinh thần này là ảo tưởng Việt Nam là tinh hoa của thế giới. Nói về người Việt Nam cứ như là dân tộc duy nhất trên thế giới có được những sáng tạo văn hóa, kĩ thuật siêu việt, cùng những phẩm chất tính cách đặc thù, chả giống ai trên thế giới.
Cho mãi đến tận bây giờ, hệ quả của những chuyện này vẫn tiếp diễn. Xã hội hào hứng theo những cái “thuần Việt Nam”, “do người Việt Nam làm ra” cho dù nó hết sức ngớ ngẩn, thô sơ và ấu trĩ không chịu nổi đối với giới chuyên môn sâu. Người ta điên cuồng sung sướng khi “Việt Nam chúng mình” chế tạo ra được từ tàu ngầm không ai dám ngồi, biết cải tiến máy bay, xe tăng cho Campuchia, chế tạo máy bay trực thăng bay cao 2 mét, và làm ra động cơ chạy bằng nước lã không ứng dụng được cho việc gì (3). Ai có can đảm lên tiếng nghi ngờ những “thành tựu” của người Việt Nam thì bị ném đá không thương tiếc.
Hệ quả thứ hai là sự phổ biến của cụm từ “gốc Việt” trên báo chí. Nếu có ai đó thành công trên thế giới vô tình có dính chút “người Việt Nam” thì cũng thành một dịp để báo chí và mọi người cùng tự hào và hỉ hả cứ như rằng cái “gốc Việt”, “dòng máu Việt” đó là một nguyên nhân để khiến họ thành công. Dù cái người “gốc Việt” ấy còn chẳng biết nửa chữ tiếng Việt, hoặc cũng chả bảo giờ tự nhận mình là người Việt Nam (4).
Dĩ nhiên, sau tất cả những cơn say, nếu bình tĩnh mà hỏi lại cặn kẽ, không ai có thể trả lời cuối cùng “dân tộc Việt Nam” là cái dân tộc nào trong số 54 dân tộc. Và vì không ai trả lời được “dân tộc Việt Nam” là gì nên cũng không ai trả lời được “văn hóa Việt Nam” hay thế nào là “bản chất người Việt Nam” là gì.
….ĐẾN KHỔ DÂM VĂN HÓA
Tự hào quá độ rồi cũng ngơ ngác nhận ra mình chả là gì so với một thế giới rộng lớn xung quanh.
Trong thời đại bùng nổ thông tin toàn cầu, 40 năm sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, sự tự tin về “bản chất ưu việt” của dòng giống Việt phần nào cũng đã bớt đi. Công dân Việt Nam ngơ ngác nhận ra họ không thể làm nên một sự phát triển thần kỳ như những nước “đồng văn đồng chủng” (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, và Đài Loan) đã làm.
Thêm nữa, dưới ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 cùng hệ quả kéo dài của nó, niềm tự hào tăng trưởng kinh tế dựa trên những con số GDP ảo và kì vọng “hóa rồng” ngày càng trở nên xa vời. Cảm giác “bị bỏ lại”, “bị lạc hậu” bàng bạc trong tâm lý của cả xã hội.
Nhiều người tìm kiếm nguyên nhân “lạc hậu” của người Việt Nam. Điều đó không sai. Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh cùng trí thức Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục đã từng làm điều đó.
Nhưng khác với tiền nhân ở chỗ: thay vì tập trung phân tích nguyên nhân trực tiếp như cơ chế lập/tư pháp bất cập, yếu kém trong quản lý nguồn lực xã hội, hay những nguyên nhân liên quan chính sách kinh tế, người ta có xu hướng lí giải nguyên nhân “thất bại”, “lạc hậu” do những đặc điểm xấu trong “truyền thống văn hóa của người Việt”.
“Truyền thống văn hóa” thành con dê tế thần trong một thế cuộc rệu rã. Đổ lỗi cho “những đặc điểm văn hóa của chính mình” thì khác gì đấm ngực sám hối mà từ chối nhìn thẳng những nguyên nhân lù lù trước mắt.
Với niềm tin đó, những “người Việt Nam” đã và đang làm một cuộc đại phẫu về chính họ. Họ tuyên chiến với những biểu hiện không phù hợp mà họ cho rằng phản ánh những thói tật “truyền thống”, khiến Việt Nam đang trở thành một nước “tụt hậu”.
Từ đó sản sinh ra một trào lưu mới trên truyền thông viết về người Việt Nam xấu xí với cách viết và nhìn nhận về “ác tật truyền thống” không có gì mới hơn so với cách viết về “truyền thống tốt đẹp” của người Việt Nam thời trước.
Xu hướng này tôi gọi là xu thế “khổ dâm văn hóa”. Họ tìm kiếm sự thanh thản tinh thần cực khoái bằng cách hạ cấp, xỉ vả chính mình một cách cảm tính nhưng không thực sự đối mặt một cách lý tính với những vấn đề của xã hội, cộng đồng.
Dư luận nhiều năm qua sa vào những tranh luận và phản biện không hồi kết về những vấn đề như: “bản chất người Việt Nam”, “đặc điểm con người Việt Nam”, rồi “sự suy đồi của đạo đức truyền thống Việt Nam”,… Từ những trường hợp cụ thể, giới truyền thông và độc giả khái quát thành những thói hư tật xấu chung mà họ cho là một dạng “truyền thống” của người Việt như tham lam, tâm lý bầy đàn, khôn vặt, vô cảm, xả rác bừa bãi, không thích xếp hàng, hèn nhát trước quyền lực, bất lịch sự nơi công cộng, thích hối lộ và sẵn sàng nhận hối lộ,…
Người ta còn làm một series chương trình trên kênh VTC với tên “Đa chiều” để mời những trí thức hàng đầu của đất nước đến bàn luận về những vấn đề xoay quanh văn hóa của người Việt, trong đó có nhiều bàn luận mang tính “phản tỉnh” về những góc tối trong truyền thống văn hóa của người Việt Nam (Đa chiều: “Thói xấu của người Việt, Bàn hay không bàn”, phát sóng lúc 20h45 ngày 18/08/2013 trên VTC1 & VTCHD1).
Trong một cơn khổ dâm văn hóa cao độ, người ta có xu hướng dằn vặt bản thân để cảm thấy tốt hơn về chính họ. Họ bịa ra luôn cái gọi là “10 tố chất cơ bản của người Việt” để cảm nhận cái khoái cảm thống khổ của việc tra tấn ảo ảnh về bản thân (5).
Tự tra tấn mình còn không đủ, người khổ dâm luôn cần một kẻ để thống trị và tra tấn mình. Họ tạo ra luôn những câu chuyện về ông giám đốc người Nhật (6), chàng thợ máy người Hàn (7) và vô số những câu chuyện tương tự khác.
Truyền thông xã hội đã góp phần hình thành hình ảnh người nước ngoài văn minh, bên cạnh những người Việt Nam được coi là kém văn minh hơn. Xu hướng lãng mạn hóa “những tố chất dân tộc” của người Hàn Quốc, người phương Tây và đặc biệt là người Nhật Bản, biểu tượng của sự phát triển và văn minh theo con đường Á Đông là một xu thế dễ nhận thấy gần đây.
Đôi khi tôi có cảm giác rằng bất kì tay cha căng chú kiết nào nếu đến từ một nước “văn minh” thì đều có quyền dạy bảo cho người Việt Nam cách thức làm người.
Và hành trình vài chục năm đi tìm chính mình liên tục rơi từ thủ dâm sang khổ dâm văn hoá. Người ta đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi đều bằng cảm tính mơ hồ. Xã hội chúng ta cần lắm những tiếng nói lý tính và thẳng thắn về những vấn đề của chính chúng ta.
Đến bao giờ chúng ta mới xa rời những khái niệm mơ hồ như “văn hóa Việt Nam”, “bản sắc Việt Nam”, “giá trị Việt Nam” để đặt những câu hỏi thiết thực, thẳng thắn hơn về nguyên nhân và những vấn đề của xã hội chúng ta đang sống.
Đừng ngợi ca hay đổ lỗi cho những đặc tính nghìn năm tưởng tượng. Dũng cảm hỏi và đối mặt trả lời những câu hỏi bức thiết của xã hội chúng ta để trả lời một cách lý tính, thẳng thắn, có như vậy cuộc sống của chúng ta, xã hội chúng ta mới “văn minh” hay khá lên được.
Ít nhất để biết rằng đầu óc chúng ta không đến nỗi quá “dâm”.
————-
(1) Toàn bộ sách của Kim Định đã được đưa lên Thư viện Nhân học. Đây là quan điểm của chúng tôi về Kim Định: https://www.facebook.com/anhnp86/posts/815622051909421
(2) Những học giả như: Kim Định, Trần Ngọc Thêm và những cây viết như Hà Văn Thùy, Mai Bá Ấn, Đỗ Quang Vinh, Nguyễn Thanh Đức, Nguyễn Vũ Tuấn Anh cùng môn đệ, Võ Văn Quang,…. và tầm khoảng vài chục người nữa đều chung tiếng nói khẳng định: Thuyết Âm Dương là của người Việt Nam, hoặc chí ít, người phương Nam (và vì thế nó vẫn là của ….người Việt).
http://giaitri.vnexpress.net/…/sach-khang-dinh-nguoi-viet-s…
(3) Xem các bài viết
http://congan.com.vn/…/nhung-nha-sang-tao-lam-rang-danh-ngu…
http://www.nguoi-viet.com/…/tmdd-14-jan-mot-nguoi-goc-viet…/
(4) Xem các bài viết:
http://giau.co/tien-sy-stanford-nguoi-viet-sang-tao-robot-…/
http://www.usis.us/…/tien-si-goc-viet-lot-vao-danh-sach-100…
http://tuoitre.vn/…/pho-thu-tuong-duc-toi-tung-…/447479.html
http://www.sbtn.tv/tien-si-uc-goc-viet-gianh-hoc-bong-nha-…/
http://www.sbtn.tv/nu-tien-si-goc-viet-doat-giai-thuong-ca…/
(5) http://vietnamnet.vn/…/ai-len-danh-sach-10-to-chat-co-ban-c…
(6) http://m.vietnamnet.vn/…/doc-chieu-sep-nhat-tri-nguoi-viet-…
(7) http://www.thesaigontimes.vn/…/Nguoi-Han-co-thong-minh-hon-…
———————
Thư viện Nhân học là một thư viện phi lợi nhuận, chúng tôi chủ trương TẬP HỢP TOÀN BỘ những tư liệu NGHIÊN CỨU hoặc PHỤC VỤ CHO NGHIÊN CỨU về VIỆT NAM ở nước ngoài bằng các thứ tiếng ANH – TRUNG – VIỆT – NHẬT – HÀN – PHÁP về một nơi để tiện cho những nhà nghiên cứu Việt Nam trong và ngoài nước có cơ sở để tra cứu tư liệu phục vụ cho nghiên cứu của mình. ĐÂY SẼ LÀ THƯ VIỆN PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU VIỆT NAM có quy mô LỚN NHẤT và HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ BẤT KÌ HẠN CHẾ NÀO TRONG VIỆC SỬ DỤNG DỮ LIỆU.
Chi phí vận hành lưu trữ dữ liệu cực kỳ lớn, cộng với việc trả lương cho các bạn tình nguyện viên thu thập và chỉnh lý tư liệu liên tục trong một thời gian dài khiến chúng tôi bắt buộc phải thu phí tham dự là 500 ngàn đồng 1 năm
Thư viện hiện có 170 ngàn đầu tư liệu đã qua chỉnh lý và hơn 10 triệu đầu sách đang trong quá trình chỉnh lý.
Để được hướng dẫn đăng ký, xin gửi tin nhắn.
Giới thiệu về Dự án của chúng tôi: https://goo.gl/FKRIci


Comments are closed.